Thứ Năm, ngày 07 tháng 8 năm 2014

Luật Bảo vệ môi trường 2014: Hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2015
Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2015, gồm 20 chương 170 điều, quy định về hoạt động bảo vệ môi trường; chính sách, biện pháp và nguồn lực để bảo vệ môi trường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong bảo vệ môi trường. Điểm nổi bật cơ bản của Luật Bảo vệ môi trường 2014 là:
- Quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường; quy định cụ thể hơn về nội dung phải có báo cáo đánh giá môi trường chiến lược; bổ sung quy định về cam kết bảo vệ môi trường. Luật quy định bổ sung và cụ thể về trách nhiệm của các hộ gia đình, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tại các làng nghề; các điều kiện về bảo vệ môi trường tại các làng nghề; trách nhiệm của UBND cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh đối với bảo vệ môi trường làng nghề. Đồng thời, bổ sung trách nhiệm của người tiêu dùng và cơ quan quản lý nhà nước bên cạnh trách nhiệm của nhà sản xuất đối với việc thu hồi các sản phẩm hết hạn sử dụng và thải bỏ; bổ sung quy định trách nhiệm của các chủ đầu tư khu công nghiệp, khu chế xuất trong quản lý chất thải.
- Quy định thêm những hành vi bị nghiêm cấm (điều 7)
- Quy định cụ thể thêm về nội dung, nguyên tắc và trách nhiệm thực hiện quy hoạch bảo vệ môi trường (mục 1, chương 2)
- Quy định thêm các nội dung chính của báo cáo đánh giá và cách thực hiện đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC); bổ sung đối tượng phải lập ĐMC (điều 14, điều 15)
- Bỏ một số quy định cụ thể trong luật về đối tượng phải lập đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và giao Chính phủ quy định chi tiết danh mục các dự án thuộc diện này (điều 18)
- Quy định thêm đối tượng, nội dung, trình tự lập kế hoạch bảo vệ môi trường tại mục 4 chương 2
- Việc bảo vệ môi trường trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên được cụ thể hóa hơn tại chương 3.
- Để nội dung của luật nhanh chóng đi vào cuộc sống, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang soạn thảo dự thảo Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. Dự thảo Nghị định gồm 8 chương, 57 điều. Bên cạnh những quy định chung, Bộ Tài nguyên-Môi trường đề xuất nhiều quy định cụ thể về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất; bảo vệ môi trường làng nghề; bảo vệ môi trường đối với hoạt động nhập khẩu, phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng; bảo vệ môi trường đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường; cộng đồng dân cư tham gia bảo vệ môi trường…


1.000 hộ dân xã Trường Thành lo ngại về nước sạch chưa hợp vệ sinh
Mấy ngày qua, người dân xã Trường Thành (huyện An Lão) hoang mang vì nước từ nhà máy nước mini của xã bị vàng, đục và có mùi hôi. Tình trạng này xuất hiện nhiều lần, được nhân dân phản ánh liên tục nhưng lãnh đạo nhà máy nước chưa có câu trả lời thỏa đáng.
Một năm, nước sạch “bẩn” 3-4 lần
Chị Nguyễn Thị Trang, 27 tuổi, ở thôn Phương Chử Nam, xã Trường Thành chia sẻ: “Đang sử dụng nước của nhà máy nước Cầu Nguyệt quen rồi, nên khi về nhà chồng ở, tôi bị dị ứng với nguồn nước ở đây. Tôi mới về làm dâu gần 1 tháng thì tới 7 ngày nước có màu vàng đục. Lo ngại về chất lượng nước nên cả gia đình chỉ sử dụng để rửa chân tay, còn các sinh hoạt khác đều dùng nước mưa”.
Theo Trưởng thôn Phương Chử Nam Nguyễn Văn Ánh, nhà máy nước mini xã Trường Thành được xây dựng và đưa vào sử dụng từ năm 2004. Khi cung cấp nước sạch cho dân trong xã, lãnh đạo nhà máy nước có “nhờ” các trưởng thôn thu phí sử dụng nước. Tuy nhiên, từ năm 2008 trở lại đây, nguồn nước cấp cho các hộ dân đôi lúc xuất hiện màu vàng, nên nhiều hộ rất bức xúc. Một số trưởng thôn đi thu tiền nước còn bị các hộ dân mang nước “bẩn” vừa vặn ở vòi hắt vào người. Cứ thành quy luật, năm nào cũng có ít nhất 3-4 lần nhà máy nước gặp sự cố, nước bị vàng, vẩn đục. Ông Ánh cho rằng, hiện nay, nhân dân trong xã mong muốn được sử dụng nước hợp vệ sinh vì nguồn nước mưa không bảo đảm. Mọi sinh hoạt như nấu ăn, vệ sinh, tắm giặt... đều cần đến nước máy nhưng nước bị vàng, đục như thế này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của nhân dân toàn xã.
Theo quan sát của phóng viên, nhà máy nước mini xã Trường Thành nằm giữa cánh đồng, ngay trước trụ sở UBND xã, cách quốc lộ 10 khoảng 200m. Chung quanh nhà máy nước, bà con nông dân vẫn cấy lúa. Một số hộ chăn nuôi gia cầm cách nhà máy nước gần 500m. Điều đáng nói là, nguồn nước thô cấp cho nhà máy được lấy từ kênh cấp 1 phục vụ sản xuất nông nghiệp của xã. Vào những ngày trời nắng, oi bức, nước tại kênh đục ngầu, có mùi khó chịu.
Phó chủ tịch UBND xã Trường Thành Nguyễn Văn Độ cho biết, xã có 7 thôn thì 6 thôn dùng nước của nhà máy nước mini, còn thôn Chi Lai sử dụng nguồn nước máy xã An Tiến. Năm nào cử tri các thôn cũng kiến nghị về việc này. Mới nhất là cuộc tiếp xúc cử tri thông báo kết quả kỳ họp thứ 9, HĐND thành phố khóa 14 (nhiệm kỳ 2011-2016), bà con lại phản ánh gay gắt tình trạng nước có mùi hôi, đôi khi bị vàng, đục. Tuy nhiên, lãnh đạo xã tới làm việc, lãnh đạo nhà máy trình đủ các loại giấy tờ như: kết quả kiểm tra chất lượng nguồn nước định kỳ của Trạm y tế xã, Trung tâm y tế dự phòng huyện An Lão bảo đảm an toàn, giấy chứng nhận nước sạch của Sở Y tế... Còn nguyên nhân xảy ra tình trạng nước bị vàng, đục, người dân vẫn chưa nhận được câu trả lời thỏa đáng từ phía lãnh đạo nhà máy nước.
Chưa rõ nguyên nhân ?
Trao đổi với phóng viên về việc nước máy có màu vàng, bị vẩn đục, ông Nguyễn Văn Lợi, lãnh đạo nhà máy nước mini xã Trường Thành khẳng định tình trạng trên là có thật và thừa nhận đây là do sự cố của nhà máy. Khi được hỏi về nguyên nhân dẫn đến việc nước bị vàng, ông Lợi cho rằng: “Các nhà máy nước mini đều sử dụng Clo trong quy trình sản xuất nước sạch. Hiện tượng nước có màu vàng là do một phần Clo dư kết tủa tại các đầu vòi nước của các hộ dân để qua một đêm. Lượng nước có Clo bị kết tủa vàng rất ít, thường chỉ khoảng 1 cốc, hoặc 1 ca”. Cũng theo ông Lợi, hiện tượng nước có màu vàng thường xảy ra đối với những hộ sử dụng nước máy hạn chế, thường là dưới 5 m3/tháng (?)
Việc một năm xảy ra từ 3-4 lần nước bị vàng, đục, ông Lợi cho biết, một năm có 2 dịp vào tháng 2 và tháng 7, là thời điểm người dân làm đất sau khi thu hoạch, lượng axit, phèn từ các thửa ruộng ngấm chảy ra hệ thống kênh cấp 1 dẫn nước vào nhà máy. Lượng axit này khó xử lý triệt để nên khi cấp nước cho các hộ dân, hiện tượng nước màu vàng khó tránh khỏi.
Phát biểu về vấn đề này, Phó giám đốc Trung tâm Y tế huyện An Lão Dương Đức Huấn cho biết, màu vàng không phải là màu của lượng Clo dư (nếu có) kết tủa trong nước máy của nhà máy nước mini xã Trường Thành. Có nhiều nguyên nhân gây ra màu vàng trong nước máy như: đơn vị sục, rửa đường ống, bể chứa nước; các công tơ và đầu đấu nối giữa các gia đình được nhập với giá rẻ, chế tạo bằng hợp kim, chất lượng kém… nên sau một thời gian sử dụng, lượng Clo dư phản ứng với các kim loại này gây ra. Cơ quan chức năng cần vào cuộc kiểm tra đột xuất, tại thời điểm người dân phải sử dụng nước “bẩn” để đánh giá, tìm ra nguyên nhân của tình trạng này, để rõ trách nhiệm thuộc về ai?
Xây dựng bể lọc công nghệ U-BCF tại Nhà máy nước An Dương
Bảo đảm nước sạch, an toàn
Cập nhật lúc11:33, Thứ Năm, 07/08/2014 (GMT+7)
Trong khuôn khổ chương trình hợp tác hữu nghị giữa hai thành phố Hải Phòng và Kitakyushu (Nhật Bản), Công ty TNHH MTV Cấp nước Hải Phòng và Cục Cấp thoát nước Kitakyushu tiến hành các chương trình hợp tác hiệu quả thông qua tài trợ của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA). Nhằm nâng cao chất lượng nước và dịch vụ, dự án nâng cấp Nhà máy nước An Dương xây dựng bể lọc tiếp xúc sinh học (U-BCF) công suất 100.000 m3/ngày đêm do JICA viện trợ không hoàn lại đang được các bên liên quan hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu cấp nước trước mắt và lâu dài cho thành phố Hải Phòng.
Nhà máy nước An Dương, nơi ứng dụng công nghệ lọc nước tiên tiến của Nhật Bản để sản xuất nước sạch.                               Ảnh: duy lê
Nhà máy nước An Dương, nơi ứng dụng công nghệ lọc nước tiên tiến của Nhật Bản để sản xuất nước sạch.
Ảnh: Duy Lê
Theo lãnh đạo Công ty Cấp nước, nguồn nước mặt của các con sông cung cấp cho các nhà máy sản xuất nước ở Hải Phòng trong những năm gần đây đang bị ô nhiễm, hàm lượng chất hữu cơ cao, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe nhân dân. Nguyên nhân là do nước thải từ các cơ sở sản xuất, nuôi trồng, các khu dân cư chưa được xử lý xả thẳng ra sông, cộng với việc sử dụng hóa chất tràn lan trong sản xuất nông nghiệp không được kiểm soát, tác động tiêu cực đến các nguồn nước sông phục vụ tưới tiêu và sản xuất nước. Kết quả phân tích định kỳ tại công ty, một số chỉ tiêu ô nhiễm như hàm lượng chất hữu cơ, amoni tăng dần theo thời gian và tăng nhanh trong những năm gần đây. Các chất ô nhiễm này gây khó khăn cho công tác vận hành của các nhà máy nước, chi phí hóa chất xử lý tăng cao. Không những thế, việc tăng cường sử dụng hóa chất CLO sẽ sinh ra hợp chất THMs không có lợi cho sức khỏe, cần hạn chế.
Cùng với dự án U-BCF tại Vĩnh Bảo, Công ty Cấp nước đang tập trung hoàn thiện dự án đầu tư nâng cấp Nhà máy nước An Dương xây dựng bể lọc công suất 100.000 m3/ngày đêm áp dụng công nghệ lọc tiếp xúc sinh học (U-BCF). Dự án vừa được đoàn công tác của JICA tiến hành khảo sát để trình Chính phủ Nhật Bản. Theo đó,  dự án có tổng mức đầu tư 15,5 tỷ yên, tương đương 15,5 triệu USD, trong đó, vốn đối ứng 500.000 USD dùng cho chi phí quản lý dự án và một số chi phí khác. Nguồn vốn viện trợ để xây dựng hoàn chỉnh cụm bể lọc U-BCF, không xây dựng mới hay mở rộng hệ thống cấp nước.
Hiện Nhà máy nước An Dương đang cung cấp nước sạch cho nhân dân 4 quận Ngô Quyền, Lê Chân, Hồng Bàng, Hải An và vùng phụ cận, phục vụ gần 800.000 người. Vì vậy, việc nâng cấp Nhà máy nước An Dương thông qua đầu tư công nghệ U-BCF sẽ nâng cao chất lượng dịch vụ. Cụ thể, về chất lượng nước, người dân trong vùng phục vụ của nhà máy có thể uống nước tại vòi, góp phần nâng cao sức khỏe, tạo môi trường sống an toàn, lành mạnh, bảo đảm an sinh xã hội. Đáng chú ý, Hải Phòng là địa phương đầu tiên của Việt Nam áp dụng công nghệ tiên tiến này của Nhật Bản, sẽ giúp nâng cao chất lượng nước ngang tầm một số nước phát triển trên thế giới.

Thứ Năm, ngày 13 tháng 3 năm 2014

Chất lượng nước sạch ngày càng tăng
2/20/14 12:56 PM
Đây là phát biểu của Thứ trưởng Bộ Xây dựng Cao Lại Quang tại Hội nghị ban chấp hành hội cấp thoát nước Việt Nam lần thứ 5 nhiệm kỳ IV diễn ra chiều 18/2 tại TPHCM.
Theo Thứ trưởng Cao Lại Quang, mức tăng trưởng trong khai thác, xử lý và cung cấp nước sạch tăng 9,5%, độ bao phủ tăng 1,5%. Đặc biệt tỷ lệ thất thoát giảm nhanh, lượng nước thất thoát toàn quốc ở mức bình quân 26%, giảm 3% so với năm 2012.
“Đây là một cố gắng lớn của ngành nước nhờ vào việc tích cực đầu tư nâng cấp dây truyền công nghệ, thay thế ống cũ, nâng cao chất lượng quản lý, sử dụng các phần mềm tiên tiến…
Điển hình như một số doanh nghiệp tại TPHCM, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang, Sóc Trăng… Tuy nhiên, vẫn còn 30% các Cty cấp nước có mức thất thoát nước cao từ 26-35%.
Bên cạnh đó, lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải có mức tăng trên 1%, khắc phục được tình trạng ngập ngúng tại một số đô thị lớn. Nhiều công trình xử lý nước thải đã và đang được đầu tư xây dựng, tuy nhiên quản lý thoát nước và xử lý nước thải vẫn còn nhiều khó khăn hơn so với cấp nước”, Thứ trưởng Cao Lại Quang nhấn mạnh.
Đánh giá hoạt động của hội cấp thoát nước Việt Nam (VWSA) trong năm 2013, Ông Trần Quang Hưng, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký VWSA cho biết: Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế nhưng các Cty cấp thoát nước đã có nhiều cố gắng duy trì và phát triển sản xuất đảm bảo cấp nước, thoát nước đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và doanh nghiệp.
Bình quân chung trong khai thác, cung cấp, xử lý nước sạch, nước thải, rác thải vẫn tăng trên 10%. Hoạt động của hội và các chi hội đã đạt được nhiều kết quả như chú trọng bảo vệ quyền lợi cho các hội viên, tham gia phản biện góp ý cho các chính sách liên quan tới ngành nghề cấp thoát nước.
Các chương trình trọng điểm đều được tập hợp từ thực tế ngành nên rất được chú trọng như tham gia xây dựng Nghị định 88 về thoát nước, đánh giá về tình hình quản lý thoát nước và xử lý nước thải đô thị của Việt Nam…
Bên cạnh đó, VWSA và hội hợp tác ngành nước Đức đã triển khai dự án hỗ trợ nâng cao chất lượng hoạt động của hội. Hai bên đã tiến hành khảo sát và đánh giá về nguồn nhân lực của chuyên ngành cũng như nhu cầu đào tạo đến năm 2020.
Bên cạnh nhiệm vụ của VWSA trong năm 2014 – 2015 là tập trung giải quyết các vướng mắc trong quá trình thực hiện các chế độ, chính sách liên quan đến chuyên ngành.
Đề xuất và tham gia xây dựng định mức chuyên ngành cho cấp thoát nước cũng như hỗ trợ và tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất vật tư, thiết bị chuyên ngành nước phát triển.
Riêng trong năm 2014 tổ chức lấy ý kiến về những thuận lợi và khó khăn trong việc áp dụng các thông tư liên bộ về giá nước sạch và Nghị định 142 bổ sung một số điều cho nghị định 177. Triển khai kế hoạch cấp nước an toàn giai đoạn 3 cho các Cty cấp nước, xây dựng tiêu chuẩn đánh giá cấp nước an toàn…
Khai thác lợi thế trong quá trình thực hiện các dự án hợp tác với Hội phát triển ngành nước Đức để tham gia có hiệu quả các dự án hỗ trợ như các dự án nước và vệ sinh cho các đô thị vừa và nhỏ, dự án đào tạo nghề cho công nhân trong lĩnh vực xử lý nước thải…
Tại hội nghị các đại biểu cũng đã nghe dự thảo đề cương Chiến lược phát triển hội cấp thoát nước Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2025 với chủ đề “đổi mới nhận thức, nâng cao vị thế, phát triển bền vững”.
Các đại biểu đã đồng tình nhất trí cần có chiến lược phát triển và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho VWSA. Ông Nguyễn Như Hải, Tổng giám đốc Cty TNHH MTV nước sạch Hà Nội nhìn nhận: Cơ chế chính sách chưa xứng tầm với hoạt động trong lĩnh vực cấp nước, do đó vẫn chưa quyết định được giá của nước sạch.
Đầu vào của nước thì theo thị trường còn đầu ra thì do chủ động của đơn vị hoặc hỗ trợ từ chính quyền địa phương. Chính sách về giá nước là quan trọng quyết định tất cả. Hoạt động của ngành nước đang còn khiêm tốn so với ngành điện, hay bưu chính viễn thông…
Phát triển nguồn nhân lực cho ngành nước, cần phải quan tâm tới vấn đề đào tạo cơ bản của ngành nước phù hợp và có kế hoạch hoàn chỉnh theo lộ trình để nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bộ công nhân ngành nước.
Tăng cường giao lưu trao đổi để gắn kết tìm hiểu để có những hỗ trợ giúp đỡ giữa các hội viên và hội cấp thoát nước, cần sự quan tâm của hội, các chi hội thật sự có hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh và cùng phát triển.

Thứ Sáu, ngày 07 tháng 3 năm 2014

Nghiệm thu đề tài: Xây dựng hướng dẫn quy hoạch quản lý chất thải rắn cấp xã, cụm xã và cấp huyện
3/7/14 11:10 AM
Toàn cảnh
Ngày 06/03/2014, tại Bộ Xây dựng, Hội đồng KHKT chuyên ngành Bộ Xây dựng đã họp nghiệm thu đề tài: Xây dựng hướng dẫn quy hoạch quản lý chất thải rắn cấp xã, cụm xã và cấp huyện do Viện Quy hoạch môi trường và Hạ tầng kỹ thuật đô thị, nông thôn (IRURE) chủ trì thực hiện. Tiến sĩ Nguyễn Trung Hòa – Vụ trưởng Vụ KHCN&MT, Bộ Xây dựng làm Chủ tịch Hội đồng.
Thay mặt nhóm tác giả thực hiện Đề tài, Ths. Nguyễn Thị Lan Anh đã trình bày tóm tắt nội dung đề tài. Theo nhóm nghiên cứu, hiện nay việc xử lý chất thải rắn (CTR) tại khu vực nông thôn đang là vấn đề cấp thiết, đặc biệt là trong tiến trình xây dựng nông thôn mới đang được Đảng và nhà nước cùng các địa phương quan tâm. Tuy nhiên, các địa phương hiện nay vẫn còn đang khó khăn trong việc áp dụng phương pháp và cách thức để xử lý chất thải rắn tại chỗ, chính vì thế đề tài nghiên cứu này được thực hiện với mục đích tổng hợp phân tích hiện trạng, làm cơ sở xây dựng Hướng dẫn quy hoạch quản lý chất thải rắn cấp xã, cụm xã và cấp huyện, áp dụng cho các cấp chính quyền, các cơ quan tư vấn, các cơ quan quản lý về bảo vệ môi trường và hạ tầng kỹ thuật cấp xã, cấp huyện.

Kết quả nghiên cứu của đề tài đã đưa ra được Quy trình lập Quy hoạch quản lý chất thải rắn gồm 8 bước: Khảo sát, phân tích đánh giá hiện trạng quản lý CTR; Thiết lập mục tiêu và phạm vi quy hoạch; Dự báo nguồn CTR phát sinh; Quy hoạch hệ thống phân loại CTR tại nguồn, tái chế, tái sử dụng CTR; Quy hoạch thu gom, vận chuyển, trạm trung chuyển CTR; Xử lý và tái chế CTR; Xây dựng kế hoạch thực hiện và lộ trình thực hiện quy hoạch; Chuẩn bị hồ sơ trình thẩm định và phê duyệt quy hoạch.

Nhóm thực hiện đề tài cũng đưa ra được 6 mô hình thu gom, vận chuyển CTR bao gồm: Mô hình quản lý CTR liên huyện; Mô hình quản lý CTR tập trung cấp huyện; Mô hình quản lý CTR bán tập trung cấp huyện; Mô hình quản lý CTR tập trung cấp xã; Mô hình quản lý CTR bán tập trung cấp xã; Mô hình quản lý CTR phân tán cấp xã.

Các ủy viên phản biện và thành viên Hội đồng đều đánh giá cao nỗ lực của nhóm tác giả thực hiện Đề tài, tuy nhiên nhóm tác giả cần phải soát xét và chỉnh sửa lại một số lỗi chính tả, thuật ngữ chuyên ngành, các phương pháp xử lý CTR cho phù hợp với điều kiện kinh tế của khu vực nông thôn nước ta hiện nay. Đồng thời, các thành viên Hội đồng cũng cho rằng, nếu căn cứ theo hệ thống pháp luật hiện hành thì chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định về lập quy hoạch chất thải rắn cho khu vực nông thôn, tuy nhiên đề tài nghiên cứu này sẽ là tài liệu tham khảo quý báu cho các nhà quản lý, và là cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước ban hành được những văn bản hướng dẫn cụ thể cho hoạt động quản lý và xử lý chất thải rắn nông thôn.

Kết luận cuộc họp, Chủ tịch Hội đồng Nguyễn Trung Hòa đề nghị nhóm tiếp thu ý kiến đóng góp của các thành viên Hội đồng, bổ sung và chỉnh sửa để đề tài được hoàn thiện hơn.

Đề tài được Hội đồng nhất trí nghiệm thu với kết quả xếp loại Khá.
Chất lượng nước sạch ngày càng tăng
2/20/14 12:56 PM
Đây là phát biểu của Thứ trưởng Bộ Xây dựng Cao Lại Quang tại Hội nghị ban chấp hành hội cấp thoát nước Việt Nam lần thứ 5 nhiệm kỳ IV diễn ra chiều 18/2 tại TPHCM.
Theo Thứ trưởng Cao Lại Quang, mức tăng trưởng trong khai thác, xử lý và cung cấp nước sạch tăng 9,5%, độ bao phủ tăng 1,5%. Đặc biệt tỷ lệ thất thoát giảm nhanh, lượng nước thất thoát toàn quốc ở mức bình quân 26%, giảm 3% so với năm 2012.
“Đây là một cố gắng lớn của ngành nước nhờ vào việc tích cực đầu tư nâng cấp dây truyền công nghệ, thay thế ống cũ, nâng cao chất lượng quản lý, sử dụng các phần mềm tiên tiến…
Điển hình như một số doanh nghiệp tại TPHCM, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang, Sóc Trăng… Tuy nhiên, vẫn còn 30% các Cty cấp nước có mức thất thoát nước cao từ 26-35%.
Bên cạnh đó, lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải có mức tăng trên 1%, khắc phục được tình trạng ngập ngúng tại một số đô thị lớn. Nhiều công trình xử lý nước thải đã và đang được đầu tư xây dựng, tuy nhiên quản lý thoát nước và xử lý nước thải vẫn còn nhiều khó khăn hơn so với cấp nước”, Thứ trưởng Cao Lại Quang nhấn mạnh.
Đánh giá hoạt động của hội cấp thoát nước Việt Nam (VWSA) trong năm 2013, Ông Trần Quang Hưng, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký VWSA cho biết: Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế nhưng các Cty cấp thoát nước đã có nhiều cố gắng duy trì và phát triển sản xuất đảm bảo cấp nước, thoát nước đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và doanh nghiệp.
Bình quân chung trong khai thác, cung cấp, xử lý nước sạch, nước thải, rác thải vẫn tăng trên 10%. Hoạt động của hội và các chi hội đã đạt được nhiều kết quả như chú trọng bảo vệ quyền lợi cho các hội viên, tham gia phản biện góp ý cho các chính sách liên quan tới ngành nghề cấp thoát nước.
Các chương trình trọng điểm đều được tập hợp từ thực tế ngành nên rất được chú trọng như tham gia xây dựng Nghị định 88 về thoát nước, đánh giá về tình hình quản lý thoát nước và xử lý nước thải đô thị của Việt Nam…
Bên cạnh đó, VWSA và hội hợp tác ngành nước Đức đã triển khai dự án hỗ trợ nâng cao chất lượng hoạt động của hội. Hai bên đã tiến hành khảo sát và đánh giá về nguồn nhân lực của chuyên ngành cũng như nhu cầu đào tạo đến năm 2020.
Bên cạnh nhiệm vụ của VWSA trong năm 2014 – 2015 là tập trung giải quyết các vướng mắc trong quá trình thực hiện các chế độ, chính sách liên quan đến chuyên ngành.
Đề xuất và tham gia xây dựng định mức chuyên ngành cho cấp thoát nước cũng như hỗ trợ và tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất vật tư, thiết bị chuyên ngành nước phát triển.
Riêng trong năm 2014 tổ chức lấy ý kiến về những thuận lợi và khó khăn trong việc áp dụng các thông tư liên bộ về giá nước sạch và Nghị định 142 bổ sung một số điều cho nghị định 177. Triển khai kế hoạch cấp nước an toàn giai đoạn 3 cho các Cty cấp nước, xây dựng tiêu chuẩn đánh giá cấp nước an toàn…
Khai thác lợi thế trong quá trình thực hiện các dự án hợp tác với Hội phát triển ngành nước Đức để tham gia có hiệu quả các dự án hỗ trợ như các dự án nước và vệ sinh cho các đô thị vừa và nhỏ, dự án đào tạo nghề cho công nhân trong lĩnh vực xử lý nước thải…
Tại hội nghị các đại biểu cũng đã nghe dự thảo đề cương Chiến lược phát triển hội cấp thoát nước Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2025 với chủ đề “đổi mới nhận thức, nâng cao vị thế, phát triển bền vững”.
Các đại biểu đã đồng tình nhất trí cần có chiến lược phát triển và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho VWSA. Ông Nguyễn Như Hải, Tổng giám đốc Cty TNHH MTV nước sạch Hà Nội nhìn nhận: Cơ chế chính sách chưa xứng tầm với hoạt động trong lĩnh vực cấp nước, do đó vẫn chưa quyết định được giá của nước sạch.
Đầu vào của nước thì theo thị trường còn đầu ra thì do chủ động của đơn vị hoặc hỗ trợ từ chính quyền địa phương. Chính sách về giá nước là quan trọng quyết định tất cả. Hoạt động của ngành nước đang còn khiêm tốn so với ngành điện, hay bưu chính viễn thông…
Phát triển nguồn nhân lực cho ngành nước, cần phải quan tâm tới vấn đề đào tạo cơ bản của ngành nước phù hợp và có kế hoạch hoàn chỉnh theo lộ trình để nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bộ công nhân ngành nước.
Tăng cường giao lưu trao đổi để gắn kết tìm hiểu để có những hỗ trợ giúp đỡ giữa các hội viên và hội cấp thoát nước, cần sự quan tâm của hội, các chi hội thật sự có hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh và cùng phát triển.