Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2013


Sức lan tỏa các dự án giao thông vốn ODA Nhật Bản

17/05/2013 21:57
“Hạ tầng giao thông sẽ vẫn là mũi nhọn ưu tiên về ODA Nhật Bản. Năm nay, vốn ODA dành cho Việt Nam tương đương với số vốn cam kết năm ngoái, tức là khoảng 2,7 tỷ USD”, Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Yasuaki Tanizaki khẳng định.

Cầu Thanh Trì, một cây cầu lớn bắc qua sông Hồng, được xây dựng bằng nguồn vốn ODA của Nhật Bản.
Các dự án giao thông vay vốn ODA của Nhật Bản có rất nhiều công trình trọng điểm, có sức lan tỏa lớn.
Tăng năng lực giao thông và cảng biển
Dự án phát triển cảng quốc tế Cái Mép – Thị Vải trên địa bàn huyện Tân Thành (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) do Bộ Giao thông vận tải làm chủ đầu tư vừa mới khánh thành đầu năm 2013, với tổng mức đầu 12.891 tỷ đồng, trong đó có một phần rất lớn là vốn vay ODA từ Nhật Bản để xây dựng hạ tầng giao thông, cảng. Đây là một trong những dự án phát triển cơ sở hạ tầng quan trọng nhất của cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam. JICA đã hỗ trợ dự án ngay từ giai đoạn ban đầu đến giai đoạn thiết kế và cả giai đoạn thi công.
Con số 10.319 tỷ đồng tổng mức đầu tư có lẽ chưa phản ánh tầm quan trọng của Dự án Xây dựng công trình luồng cho tàu biển trọng tải lớn vào sông Hậu thuộc Danh mục 29 dự án hạ tầng giao thông vừa được Bộ Giao thông vận tải (GTVT) đề xuất sử dụng vốn vay ODA Nhật Bản giai đoạn 2013 - 2015.
Là công trình cải tạo luồng hàng hải lớn nhất từng được triển khai tại Việt Nam, Dự án có mục tiêu xây dựng 40 km luồng vào Sông Hậu qua kênh Quan Chánh Bố..., đảm bảo cho tàu 10.000 tấn đầy tải và 20.000 tấn non tải vào các cảng nội địa nằm sâu trong sông Hậu, với tổng khối lượng hàng hóa qua lại lên tới 21 - 22 triệu tấn/năm.
“Đây sẽ là cửa ngõ quan trọng nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long, góp phần giảm bớt ách tắc giao thông trên Quốc lộ 1 và nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa khu vực do không phải trung chuyển bằng đường bộ qua cụm cảng ở TP.HCM”, ông Nguyễn Mạnh Ứng, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn Cảng biển Việt Nam đánh giá.
Được biết, ngoài Dự án Xây dựng công trình luồng cho tàu biển trọng tải lớn vào sông Hậu, một công trình cảng biển nước sâu quan trọng khác tại miền Trung là cảng Đà Nẵng cũng đã được Bộ GTVT đề nghị được sớm vay vốn ODA Nhật Bản để triển khai nâng công suất.
Theo đó, Dự án dự kiến xây dựng thêm 2 bến container có khả năng tiếp nhận tàu 50.000 DWT, 1 bến tàu khách, hệ thống kho bãi rộng khoảng 70.000 m2, nạo vét khu nước trước bến và vũng quay tàu. Tổng mức đầu tư của Dự án vào khoảng 150 - 200 triệu USD, trong đó dự kiến vay ODA Nhật Bản trong tài khóa năm 2013 với giá trị khoảng 10 tỷ yên.
“JICA đang rất quan tâm tới Dự án và sẵn sàng cử đoàn nghiên cứu hình thành dự án trong tháng 6/2013”, ông Vân cho biết.
Cũng cần phải nói thêm rằng, trong danh sách dài các dự án hạ tầng giao thông sử dụng vốn vay ODA Nhật Bản trong 3 năm tới hội tụ những công trình có quy mô rất lớn thuộc các lĩnh vực giao thông đô thị, cảng biển, đường cao tốc, hàng không và đường sắt.
Cùng với đó, mới đây JICA đã chấp thuận khởi công 4 dự án giao thông lớn trong nửa đầu năm 2013 là Dự án xây dựng Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng (TMĐT 18.627 tỷ đồng); Dự án đường ô tô Tân Vũ – Lạch Huyện (TMĐT 11.849 tỷ đồng).
Diện mạo mới cho giao thông Thủ đô
Cũng trong năm 2012, bằng nguồn vốn ODA, Hà Nội đã giải quyết được phần nào bài toán ách tắc giao thông nội đô bằng việc xây dựng và đưa vào sử dụng có hiệu quả 5/18 cầu vượt tại các điểm: Chùa Bộc - Tây Sơn, Láng Hạ - Huỳnh Thúc Kháng, Láng - Lê Văn Lương, Láng - Trần Duy Hưng, nút Nam Hồng.
Vừa qua, trong chuyến tham quan thực tế một số dự án ODA Nhật Bản tiêu biểu ở Hà Nội, ông Tsuno Motonori, Trưởng Đại diện Văn phòng JICA tại Việt Nam đánh giá: “Hà Nội đã sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA của Chính phủ Nhật Bản. Các công trình này sẽ góp phần hình thành một phần mạng lưới giao thông hiện đại cho Hà Nội, cải thiện hệ thống vận tải hàng hóa cũng như giải quyết tình trạng ùn tắc giao thông và đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố”.
Điển hình cho vấn đề này là việc Hà Nội đang tập trung cho hai công trình trọng điểm được xây dựng bằng nguồn vốn ODA của Chính phủ Nhật Bản, đó là công trình cầu Nhật Tân và Nhà ga hành khách T2 của Cảng Hàng không Quốc tế Nội Bài.
Công trình cầu Nhật Tân được Chính phủ xác định là công trình trọng điểm quốc gia. Cầu Nhật Tân sau khi hoàn thành sẽ kết nối trung tâm Thủ đô Hà Nội với các tỉnh phía Bắc và các Khu công nghiệp Bắc Thăng Long, Đông Anh, Cổ Loa, Gia Lâm, Yên Viên. Cây cầu này trong tương lai còn có sứ mệnh hoàn thiện tuyến đường vành đai 2, rút ngắn tuyến đường từ trung tâm Thủ đô đến sân bay Nội Bài. Sau khi hoàn thành, đây là cây cầu dây văng dài nhất Việt Nam và sẽ là một điểm nhấn trong kiến trúc cảnh quan Thủ đô.
Theo Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam, dự án công trình xây dựng Nhà ga hành khách T2 của Cảng Hàng không Quốc tế Nội Bài có tổng đầu tư gần 900 triệu USD, trong đó có gần 700 triệu USD là từ nguồn vốn ODA của Nhật Bản. Nhà ga T2 được thiết kế gồm 4 tầng, diện tích mặt bằng hơn 139.000m2, công suất dự kiến sẽ đưa đón 10 triệu hành khách/năm. Theo dự kiến, công trình này sẽ hoàn thành vào tháng 11/2014 và khi đưa vào sử dụng sẽ giảm tải cho Nhà ga T1 hiện đang bị quá tải.

Thứ Sáu, 17 tháng 5, 2013


Chia sẻ kinh nghiệm chống thất thoát nước sạch

17/05/2013 18:01
Hội thảo: “Nâng cao năng lực, chia sẻ kinh nghiệm chống thất thoát, thất thu nước sạch khu vực phía Nam” do Cục Hạ Tầng Kỹ thuật – Bộ Xây dựng đã tổ chức ngày 17/5 tại TP.HCM đã thu hút gần 130 đơn vị sản xuất, kinh doanh nước sạch và đại diện các Bộ: Kế hoạch Đầu tư, Nông nghiệp Nông thôn, Khoa học Công nghệ và lãnh đạo các Sở Xây dựng các tỉnh, thành phía Nam tới dự.
Theo báo cáo của Cục Hạ tầng, hiện 11/63 tỉnh thành có tỷ lệ thất thu, thất thoát nước (TTTT) trên 30%, 22/63 tỉnh thành có tỷ lệ TTTT từ 25 – 30% và 18/63 tỉnh thành có tỷ lệ TTTT từ trong 18 – 25%. Trước thực trạng TTTT nước sạch cao như trên, Cục trưởng Cục Hạ tầng Kỹ thuật – Nguyễn Hồng Tiến khẳng định: để chống TTTT nước sạch, trước hết cần có sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo, chính quyền các địa phương trong việc xây dựng chính sách, kêu gọi đầu tư, thu hút vốn, tháo gỡ những khó khăn khi lắp đặt hệ thống nước sạch. Bản thân các đơn vị cấp nước sạch phải có sự đầu tư đúng mức nhằm đảm bảo hệ thống cung cấp nước sạch hiện đại với các công nghệ tiên tiến. Yếu tố con người trong công tác này rất quan trọng nên các đơn vị cần thường xuyên đào tạo nâng cao năng lực quản lý, chế độ đãi ngộ cho người tham gia chống TTTT nước sạch. Cục trưởng Nguyễn Hồng Tiến nhấn mạnh: Muốn chống TTTT nước sạch phải bắt đầu từ khâu quy hoạch, thiết kế, thi công…
Tại hội thảo, nhiều doanh nghiệp đã chia sẻ kinh nghiệm chống TTTT của mình trong hơn 10 năm qua. Đa số các đại biểu đều cho rằng, việc chống TTTT nước sạch là vấn đề vô cùng gian nan, vất vả nhưng không phải là không có kết quả. Điển hình như Cty TNHH MTV Cấp thoát nước – Môi trường Bình Dương, Công ty Cấp thoát nước Bà Rịa Vũng Tàu … đã giảm được tỷ lệ TTTT xuống dưới 20%.
Được biết, mục tiêu của Chương trình chống TTTT nước sạch của nước ta đến năm 2015 bình quân 25%, năm 2020 còn 18% và đến năm 2025 còn 15%. Để thực hiện được mục tiêu này, các đại biểu đều cho rằng, việc tiên quyết là phải nâng cao nhận thức của cộng đồng và năng lực chính quyền địa phương, năng lực quản lý của doanh nghiệp, đồng thời phải xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách về chống TTTT nước sạch…

Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2013


Khám phá ngôi làng nhà đất được trang trí đẹp mắt

11/05/2013 23:20

Tại miền Nam Burkina Faso, một vùng đất ở Tây Phi gần biên giới Ghana tọa lạc một ngôi làng nhỏ với tên gọi Tiébélé có diện tích khoảng 1.2 ha với những ngôi nhà bằng bùn được trang trí khá tinh xảo và đẹp mắt.

Ngôi làng Tiébélé là nơi trú ngụ của người Kassena, một trong những nhóm dân tộc cổ nhất định cư ở vùng biên giới Burkina Faso vào thế kỷ thứ 15. Làng Tiébélé được biết đến bởi kiến trúc kiểu Gourounsi với những bức tường nhà được trang trí một cách công phu, tỉ mỉ.
Burkina Faso là một vùng quê nghèo, và cũng được xem là một trong những nơi nghèo nhất trên thế giới. Tuy nghèo nàn về vật chất, nhưng đây lại là nơi giàu có về bản sắc văn hóa.
Đối với người dân nơi đây, việc trang trí lên các bức tường nhà là điều quan trọng không thể thiếu trong đời sống văn hóa của họ. Việc trang trí tường nhà là công việc chung được thực hiện bởi những người phụ nữ, đó là một hoạt động cổ xưa bắt nguồn từ khoảng thế kỷ 16 sau công nguyên.
Người Kassena đã xây dựng nhà ở của họ hoàn toàn bằng những vật liệu có sẵn như đất, gỗ và rơm. Đất bùn đươc trộn lẫn với rơm và phân bò, đối với người Kassena thì một thứ cao trát cực kỳ tốt. Ngày nay, chất liệu xây dựng đó được thay thế bằng gạch, đá và có nền móng vừng chắc.
Những ngôi nhà bùn đất ở làng Tiébélé được xây dựng để chống lại thời tiết khắc nghiệt cũng như kẻ thù. Những bức tường có bề dày hơn 30cm, những ngôi nhà này được thiết kế không có cửa sổ ngoại trừ 1 hoặc 2 lỗ nhỏ để ánh sáng lọt qua.
Cửa trước của nhà thường chỉ cao khoảng 70cm, cửa được thiết kế như vậy nhằm mục đích chắn ánh nắng trực tiếp của mặt trời chiếu vào, đồng thời làm cho kẻ thù khó tấn công. Mái nhà được bảo vệ bởi những thang gỗ, nó giúp cho người ta dễ dàng rút thang khi cần thiết. Đồ uống như rượu hoặc bia được người dân tự ủ và nấu ở nhà.
Sau khi nhà được xây xong thì người phụ nữ sẽ có nhiệm vụ trang trí lên những bức tường sử dụng bùn tẩm màu hoặc phấn trắng. Hình ảnh trang trí trên tường thường là những hoạt động về đời sống sinh hoạt hàng ngày hoặc các biểu tưởng tôn giáo….
Sau khi tường được trang trí xong, tổng thể bề mặt của ngôi nhà được quét lại bằng một loại sơn mài tự nhiên được làm từ đậu Néré luộc kết hợp với cây keo gai châu Phi. Việc trang trí tường phải được hoàn thành trước mùa mưa để bảo vệ tường khỏi sự xói mòi của nước mưa.
Một số hình ảnh về những ngôi nhà tại ngôi làng Tiébélé:

Khai mạc Tuần lễ VHTTDL Năm Du lịch quốc gia Đồng bằng sông Hồng - Hải Phòng 2013

12/05/2013 12:48
Năm Du lịch Quốc gia Đồng bằng sông Hồng-Hải Phòng 2013 là cơ hội cho cả vùng phát huy thế mạnh, tạo phát triển đột phá để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Tối ngày 11/5, TP. Hải Phòng phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các tỉnh Đồng bằng sông Hồng tổ chức Lễ khai mạc Tuần Văn hoá, Thể thao, Du lịch và Lễ hội Hoa phượng đỏ lần thứ 2, những hoạt động trọng tâm của Năm Du lịch Quốc gia Đồng bằng sông Hồng-Hải Phòng 2013 có chủ đề “Văn minh sông Hồng”. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã dự và phát biểu tại sự kiện quan trọng này.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại Lễ khai mạc
TuầnVăn hoá, Thể thao, Du lịch và Lễ hội Hoa phượng đỏ lần thứ 2 tại Hải Phòng.
Đồng bằng châu thổ sông Hồng là nơi có nhiều di tích lịch sử, văn hoá quốc gia, danh lam thắng cảnh, lễ hội dân gian và tài nguyên du lịch biển, du lịch sinh thái phong phú, đa dạng.
Những năm qua, cùng với các địa phương trong cả nước, du lịch của các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng nói chung và Tam giác kinh tế Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh nói riêng đã đạt được nhiều kết quả tích cực với lượng khách du lịch quốc tế tăng trung bình 13,2%/năm, khách du lịch nội địa tăng 14,3%/năm; tổng thu từ du lịch tăng cao.
Trong vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng,TP. Hải Phòng là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa đặc sắc của nền văn minh Việt cổ theo dòng chảy sông Hồng, nơi được thiên nhiên ưu đãi có nhiều tài nguyên tự nhiên đa dạng để phát triển nhiều loại hình du lịch như bãi biển, hải đảo, nổi bật là quần đảo Cát Bà liền kề với vịnh Hạ Long.
Thời gian qua, Hải Phòng đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành Trung ương, các địa phương trong vùng và các tổ chức trong và ngoài nước huy động nhiều nguồn lực, chuẩn bị cơ sở vật chất, tổ chức các hoạt động hướng về cội nguồn, tôn vinh những giá trị văn hóa, di sản quý báu; quảng bá với bạn bè quốc tế và nhân dân trong nước, thu hút được nhiều khách du lịch, đồng thời mở ra những cơ hội hợp tác, hữu nghị và giao thương.

Ảnh: VGP/Nguyễn Hoàng
Phát biểu tại Lễ khai mạc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh, Năm Du lịch Quốc gia Đồng bằng sông Hồng-Hải Phòng 2013 là cơ hội cho cả vùng tổng kết và đề ra phương hướng nhằm phát huy thế mạnh, tạo sự đột phá để du lịch thực sự phát triển, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế-xã hội đất nước.
Theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, hiện nay, Việt Nam đang tích cực triển khai thực hiện Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, nhằm xây dựng ngành du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng chiều sâu, chất lượng và hiệu quả; phát triển du lịch bền vững gắn liền với bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội.
Mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam phấn đấu trở thành quốc gia có ngành du lịch phát triển với mức tăng trưởng bình quân khoảng 12%/năm, đạt trên 10 triệu lượt du khách quốc tế và khoảng 50 triệu lượt du khách nội địa với tổng thu từ khách du lịch khoảng18 tỷ USD, tạo thêm 3 triệu việc làm và đóng góp khoảng 7% GDP.
Để góp phần thực hiện tốt các định hướng và mục tiêu của phát triển du lịch quốc gia, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị các bộ, ngành, thành phố Hải Phòng và các địa phương trong vùng Đồng bằng sông Hồng cần tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được, nỗ lực vượt qua thách thức, khó khăn, chủ động phối hợp, năng động, sáng tạo phát huy tốt nội lực và các lợi thế về lịch sử, văn hóa, cảnh quan thiên nhiên, đồng thời tranh thủ có hiệu quả sự hỗ trợ, hợp tác của bạn bè trong nước và quốc tế để phát triển du lịch của Tam giác kinh tế Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh nói riêng và cả vùng Đồng bằng sông Hồng nói chung.

Năm Du lịch Quốc gia Đồng bằng sông Hồng
tạo sức bật cho du lịch trong vùng phát triển mạnh. Ảnh: VGP/Nguyễn Hoàng
Đồng thời, đẩy mạnh liên kết, hợp tác giữa các địa phương và phát huy sức mạnh sáng tạo nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp cho phát triển du lịch. Trong đó cần chú trọng phát huy kinh nghiệm, lợi thế so sánh về các di sản văn hóa, di sản thiên nhiên (đặc biệt các di sản được UNESCO công nhận là di sản thế giới); hệ thống lễ hội, làng nghề; truyền thống lịch sử và giá trị sinh thái-nhân văn đặc trưng của nền văn minh lúa nước... để hình thành các sản phẩm du lịch phong phú, độc đáo, đa dạng mang đậm chất văn hóa, văn minh sông Hồng gắn với xây dựng thương hiệu du lịch Đồng bằng sông Hồng có sức cạnh tranh cao, trở thành điểm đến du lịch bền vững mang tầm khu vực và quốc tế.
Chính quyền các địa phương trong vùng Đồng bằng sông Hồng cần thực hiện các chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch phát triển bền vững; tăng cường thu hút đầu tư; khai thác hợp lý các tiềm năng, giữ gìn môi trường sinh thái; bảo đảm an ninh, an toàn du lịch; chú trọng xây dựng văn hóa, văn minh du lịch, khuyến khích mỗi người dân và mỗi khách du lịch có trách nhiệm cùng chung tay xây dựng môi trường du lịch văn minh, thân thiện và bền vững; qua đó góp phần để bạn bè quốc tế cảm nhận được truyền thống yêu chuộng hòa bình, mến khách của dân tộc ta.
Ngoài ra, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng nhấn mạnh, các bộ, ngành Trung ương cần phối hợp chặt chẽ với các địa phương trong vùng, hỗ trợ, tạo điều kiện và kịp thời tháo gỡ những khó khăn, rào cản trong hoạt động du lịch, thu hút đầu tư, đẩy mạnh công tác xã hội hóa các hoạt động phát triển du lịch, tạo thêm nhiều việc làm, thúc đẩy các ngành khác cùng phát triển, góp phầngiảm nghèo, tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo diện mạo mới cho cả vùng.
Ngành du lịch phát triển lớn mạnh sau hơn 25 năm mở cửa, đổi mới và hội nhập. Tính từ năm 1995 đến 2012, lượng khách du lịch quốc tế và nội địa đều tăng hơn 5 lần (khách du lịch quốc tế tăng từ 1,35 triệu lượt lên gần 7 triệu lượt; khách du lịch nội địa tăng từ gần 7 triệu lượt lên gần 33 triệu lượt), tổng thu từ khách du lịch tăng gần 20 lần, đạt 160 nghìn tỷ đồng; đóng góp của ngành du lịch vào GDP cả nước tăng từ 3% lên khoảng 6%.
Cơ sở hạ tầng và hệ thống quản lý Nhà nước về du lịch được đổi mới và tăng cường, tạo ra diện mạo mới cho du lịch Việt Nam. Trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước còn có nhiều khó khăn, những kết quả đạt được vừa qua cho thấy du lịch đang là một trong những điểm sáng về kinh tế, đóng góp hiệu quả cho sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Thứ Sáu, 10 tháng 5, 2013


Cty TNHH MTV kinh doanh nước sạch Hải Dương: Tối ưu hóa quản lý vận hành hệ thống cấp nước

07/05/2013 10:59
Thực hiện “Chương trình quốc gia chống thất thoát, thất thu nước sạch đến năm 2025” của Chính phủ, Cty TNHH MTV kinh doanh nước sạch Hải Dương (Cty KDNS Hải Dương) đã khai thác tối ưu mọi nguồn lực, thực hiện nhiều dự án đầu tư phát triển cấp nước, nhiều giải pháp thực hiện chương trình chống thất thoát, thất thu nước sạch, chủ động sáng tạo trong ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ để từng bước hiện đại hoá cấp nước, đuổi kịp trình độ quản lý và vận hành của các nước tiên tiến trên thế giới, nhằm phát triển hoạt động cấp nước bền vững đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch; cung cấp nước ổn định, bảo đảm chất lượng, dịch vụ tốt và kinh tế trên địa bàn tỉnh Hải Dương.

Lắp đặt thiết bị giám sát cho các block
Tối ưu hóa quản lý vận hành hệ thống cấp nước
Ông Nguyễn Văn Đoàn - Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc Cty KDNS Hải Dương chia sẻ: Một trong những giải pháp tổng thể được lựa chọn để thực hiện chương trình chống thất thoát, thất thu và phát triển hoạt động cấp nước bền vững là tối ưu hóa quản lý vận hành hệ thống cấp nước. Trên cơ sở hạ tầng cấp nước hiện có, bao gồm các công trình xử lý nước, hệ thống mạng đường ống, nhu cầu tiêu thụ hiện hữu cũng như giai đoạn tương lai và nguồn lực hiện tại. Sau khi khảo sát nghiên cứu, phân tích đánh giá Cty KDNS Hải Dương đã xây dựng các bước triển khai thực hiện:
Đối với công trình nguồn: Ưu tiên khai thác nguồn nước mặt, hạn chế khai thác nguồn nước ngầm để làm nguồn dự trữ, ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin và truyền thông, đầu tư cải tạo đường truyền công nghệ, ưu tiên cải tạo công nghệ lắng, lắp đặt thiết bị biến tần, xây dựng hệ thống giám sát vận hành, tiến tới tự động hóa vận hành xử lý nước cho tất cả các công trình hiện có.
Đối với hệ thống mạng lưới: Tái cấu trúc lại hệ thống mạng lưới đường ống cấp nước như: Phân vùng tách mạng, tạo lập các block; Xây dựng kế hoạch đầu tư, cải tạo, thay thế lắp đặt đồng hồ tổng; Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, thiết bị công nghệ mới như van thông minh điều tiết áp lực; Xác định các điểm cần kiểm soát theo dõi, phân tích, đánh giá nhu cầu tiêu thụ hiện hữu và các giai đoạn tương lai, cân đối lại áp lực giữa khu vực đầu nguồn và cuối nguồn; Điều tiết sản xuất cho phù hợp.
Xây dựng hệ thống quản lý tổng thể: Cty nhận thấy ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ là cần thiết nhưng phải hiểu biết và làm chủ được khoa học công nghệ (không phụ thuộc vào các nhà cung cấp và dịch vụ) thì mới đảm bảo bền vững, đồng thời phải phù hợp với điều kiện nguồn hiện có của Cty.
Thành quả đạt được
Từ năm 2011, Cty đã nghiên cứu chế tạo thành công thiết bị giám sát lưu lượng, áp lực… lắp đặt cho tất cả các hệ thống cấp nước của Cty đồng thời ứng dụng các công nghệ thông tin và truyền thông xây dựng được phần mềm hệ thống: Cải tiến phần mềm điều khiển quản lý thiết bị, phần mềm quản lý người sử dụng hệ thống, thu thập thông tin, phân tích và tổng hợp và xây dựng Web với người sử dụng đầu cuối. Cty đã từng bước hiện đại hóa trình độ quản lý, vận hành hệ thống cấp nước; Quản lý vận hành ổn định, đảm bảo chất lượng, an toàn, tiết kiệm chi phí sản xuất và thực hiện chương trình chống thất thoát, thất thu hiệu quả.
“Tối ưu hóa quản lý vận hành hệ thống cấp nước” đã thực sự trở thành công cụ hữu hiệu trong quản lý vận hành hệ thống cấp nước, giảm chi phí sản xuất, thực hiện chương trình thất thoát, thất thu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh góp phần ổn định tài chính của Cty nước Hải Dương, tạo nguồn để phát triển và mở rộng dịch vụ cung cấp nước sạch. Nguồn nước sạch và dịch vụ cấp nước của Cty không những đáp ứng đủ cho nhu cầu của các đô thị, các khu, cụm công nghiệp mà còn cung cấp được cho hơn 40 xã nông thôn (tương đương 160 nghìn dân) trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
Hiện nay, nhận thức được lợi ích đạt được của việc “Tối ưu hóa quản lý vận hành Hệ thống cấp nước” Cty KDNS Hải Dương đã chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ áp dụng được cho một số Cty cấp nước như: Sơn La, Phú Thọ, Nam Định, Thái Bình, Quảng Ninh… và các tỉnh thành khác trên cả nước nhằm góp phần đạt mục tiêu giảm tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch xuống dưới 15% vào năm 2025.

Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2013


Triển khai Thông tư số 09/2012/TT-BXD về quy định sử dụng VLXD không nung: Những tín hiệu tích cực

26/04/2013 16:00
Ngày 28/11/2012, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 09/2012/TT-BXD về việc Quy định sử dụng vật liệu xây không nung (VLXKN) trong các công trình xây dựng. Theo đó, các công trình được đầu tư bằng nguồn vốn Nhà nước bắt buộc phải sử dụng VLXKN theo lộ trình. Tại các đô thị loại III trở lên phải sử dụng 100% VLKN kể từ ngày 15/01/2013. Tại các khu vực còn lại phải sử dụng tối thiểu 50% VLKN kể từ ngày có hiệu lực đến hết năm 2015, sau năm 2015 phải sử dụng 100%.
Thông tư 09 được ban hành đã khẳng định thêm quyết tâm của Bộ Xây dựng và Chính phủ trong việc thúc đẩy sự phát triển của VLXKN. Tuy nhiên, để các quy định của Thông tư thực sự đi vào đời sống cần phải có thời gian. Dưới đây là một số ý kiến của nhà quản lý, nhà đầu tư và người sử dụng về các quy định của Thông tư 09.
Ông Lê Văn Tới - Vụ trưởng Vụ VLXD (Bộ Xây dựng):
Khi Thông tư 09 mới ban hành, một số địa phương cho rằng những quy định trong Thông tư quá đột ngột. Nhưng trên thực tế, Chương trình phát triển VLXKN đến năm 2020 đã được Thủ tướng phê duyệt từ ngày 28/4/2010 tại Quyết định 567/QĐ-TTg. Ngày 16/4/2012, Thủ tướng ban hành Chỉ thị số 10/CT-TTg về việc tăng sử dụng VLXKN. Như vậy kể từ khi Chính phủ khởi động chương trình phát triển VLXKN tới thời điểm Thông tư 09 ra đời, xã hội đã có 3 năm để “thấm nhuần” chủ trương này. Trong quãng thời gian đó, Bộ Xây dựng cũng đã hoàn thiện các tiêu chuẩn sản phẩm, hướng dẫn sử dụng gạch không nung (GKN), đồng thời ban hành định mức dự toán để sử dụng loại vật liệu này trong các công trình.
Mặc dù mới ra đời nhưng Thông tư 09 đã cho thấy tín hiệu tích cực. Các địa phương đã vạch ra lộ trình cụ thể để đưa VLXKN vào sử dụng đồng thời hạn chế việc xây dựng bằng gạch đất sét nung. Bên cạnh đó, do chưa đủ nguồn cung nên một tỉnh ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên đã có văn bản đề nghị Bộ Xây dựng cho phép lùi thời gian thực hiện và đã được Bộ chấp thuận.
Tuy nhiên, do Thông tư 09 có hiệu lực từ ngày 15/01/2013 mà những công trình sử dụng vốn Nhà nước xây dựng trong năm nay đã được phê duyệt từ những năm trước nên trong thời gian tới, những công trình này vẫn thực hiện theo đúng kế hoạch. Nhà nước chỉ khuyến khích chủ đầu tư chuyển đổi từ gạch nung sang GKN. Bắt đầu từ 15/01/2013, những công trình mới (thuộc đối tượng trong Thông tư 09), đang trong quá trình lập dự án, thiết kế và tính dự toán, định mức dự án bắt buộc phải đưa vào yếu tố sử dụng VLXKN.
Ông Đặng Việt Lê - Chủ tịch HĐQT Cty CP Gạch Khang Minh:
Hiện tại, Cty CP Gạch Khang Minh đang chủ yếu cung cấp sản phẩm ở những công trình như chung cư cao tầng, trường học, nhà máy, KCN... với nguồn vốn đầu tư tư nhân hoặc vốn đầu tư nước ngoài. Những công trình này không nằm trong phạm vi hiệu lực của Thông tư 09. Tuy nhiên, Thông tư 09 vẫn có những tác động tích cực ở một số mặt như các sở, ban ngành, DN và cá nhân đã chủ động liên hệ với gạch Khang Minh để tìm hiểu về sản phẩm GKN xi măng cốt liệu của Cty. Tại nhiều tỉnh như Nam Định, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Phòng…, GKN xi măng cốt liệu đã được niêm yết trên công bố giá do liên Sở Xây dựng - Tài chính phát hành. Đây là tài liệu có tính pháp lý trong việc định hướng lập dự toán, thanh quyết toán giá sản phẩm đối với các công trình vốn Nhà nước.
Các Cty tư vấn thiết kế cũng đón nhận rất tích cực thông tin về GKN xi măng cốt liệu và đã tìm hiểu, đánh giá các phương án, lập hồ sơ dữ liệu để chuẩn bị cho việc thiết kế các công trình mới. Tích cực nhất có lẽ là từ các nhà thầu xây dựng khi nhiều nhà thầu đã tự chuyển đổi gói thầu cũ từ gạch đất sét nung sang GKN xi măng cốt liệu. Thời gian tới chúng tôi hy vọng và rất tin tưởng Thông tư 09 sẽ được áp dụng nhanh và rộng.
Ông Phan Như Dũng - Phó trưởng BQLDA khu chung cư cao tầng Sông Nhuệ, Cty TNHH Khải Hưng:
Theo tôi, những quy định về việc sử dụng GKN được đưa ra trong Thông tư 09 là rất đúng đắn, bởi đây là loại vật liệu thân thiện với môi trường. Chưa nói đến chất lượng hay giá thành sản phẩm, điều chúng ta có thể nhận thấy ngay là sự xuất hiện của GKN giải quyết một số vấn đề của ngành gạch nung trước đó như bảo vệ đất nông nghiệp, góp phần đảm bảo an ninh lương thực…
Riêng với Cty CP Khải Hưng, mặc dù là DN với 100% vốn tư nhân, tức không nằm trong những đối tượng bắt buộc trong Thông tư 09, nhưng do nhận thấy những tính năng ưu việt của sản phẩm này, chúng tôi đã đưa GKN vào sử dụng tại công trình của mình từ cách đây 2 năm.
Qua xem xét đồng thời một số loại GKN khác nhau, năm 2012 chúng tôi lựa chọn GKN xi măng cốt liệu cho công trình khu chung cư cao tầng Sông Nhuệ do Cty làm chủ đầu tư. Loại gạch này có cường độ chịu lực tốt, độ hút ẩm chỉ bằng ½ so với gạch đỏ. Hơn thế, giống như gạch đỏ, gạch XMCL không đòi hỏi sử dụng vữa chuyên biệt, mà sử dụng vữa thông thường, quá trình bảo dưỡng tường xây gạch XMCL cũng rất đơn giản. Thống kê từ thực tiễn công trường cho thấy, chi phí cho gạch XMCL trong công trình rẻ hơn gạch đất sét nung từ 10 - 15%.