Thứ Ba, 21 tháng 5, 2013


Xử lý nước thải bằng công nghệ lọc màng MBR

Quy trình xử lý bể sinh học bằng màng MBR (Membrane Bio Reactor) có thể loại bỏ chất ô nhiễm và vi sinh vật rất triệt để nên hiện nay được xem là công nghệ triển vọng nhất để xử lý nước thải.

Xử lý nước thải bằng công nghệ lọc màng MBR

Quy trình xử lý bể sinh học bằng màng MBR (Membrane Bio Reactor) có thể loại bỏ chất ô nhiễm và vi sinh vật rất triệt để nên hiện nay được xem là công nghệ triển vọng nhất để xử lý nước thải. 

MBR là kỹ thuật mới xử lý nước thải kết hợp quá trình dùng màng với hệ thống bể sinh học thể động bằng quy trình vận hành SBR sục khí 3 ngăn và công nghệ dòng chảy gián đoạn. MBR là sự cải tiến của quy trình xử lý bằng bùn hoạt tính, trong đó việc tách cặn được thực hiện không cần đến bể lắng bậc 2. 

Nhờ sử dụng màng, các thể cặn được giữ lại trong bể lọc, giúp cho nước sau xử lý có thể đưa sang công đoạn tiếp theo hoặc xả bỏ / tái sử dụng được ngay.

Bể cân bằng...|...Bể sục khí...|...Bể lọc tách bằng màng...|...Bể nước đầu ra

Vai trò của MBR:

  Tiền xử lý: như lưới lọc, song chắn rác.
  Xử lý bậc 1: khử chất hữu cơ, N, P.
  Xử lý bậc 2: phân tách hai pha rắn và pha lỏng khi qua màng.

Vai trò của Bể lọc tách bằng màng:

  Cấp đầy dưỡng chất bằng hấp thu lượng amoni và P còn lại.
  Khử hết sinh vật còn lại.
  Vận hành gián đoạn (7~12 phút chạy, 3 phút ngưng).
  Làm sạch màng chỉ bằng thổi khí ngược.
  Vận hành liên tục trên 6 tháng, lưu tốc 0.3 m3/m2.ngày.

Ưu điểm của kỹ thuật dùng màng lọc tách:

  Không cần bể lắng và giảm kích thước bể nén bùn
  Không cần tiệt trùng nhờ đã khử triệt để coliform
  Công trình được tinh giản nhờ sử dụng chỉ một bể phản ứng để khử N & P mà không cần bể lắng, bể lọc và tiệt trùng.
  Trong điều kiện thay đổi đột ngột, hệ thống được điều chỉnh cho ổn định bằng kỹ thuật không sục khí – sục khí – không sục khí.
  Khắc phục được các yếu điểm (nén bùn và tạo bọt) trong phương pháp bùn hoạt tính (dùng màng khử hiệu quả Nutrient và E.coli)
  Dễ kiểm soát và bảo trì bằng hệ thống tự động.

Sơ đồ dây chuyền công nghệ: 

Chú thích:

Influent – đầu vào; Anaerobic reactor – bể kỵ khí; Dynamic state bioreactor – bể sinh học thể động; Membrane separation tank – bể lọc tách bằng màng; KMS hollow fiber membrane – màng sợi rỗng KMS; OER (oxygen exhausted reactor) – bể yếm khí; Suction pump (permeate) – bơm hút (nước sau xử lý); Effluent – đầu ra


Cơ chế tách chất lơ lửng bằng màng sợi rỗng ngập:

Vi sinh vật, chất ô nhiễm, bùn hoàn toàn bị loại bỏ ngay tại bề mặt màng (lổ rỗng 0.4um). Đồng thời chỉ có nước sạch mới qua được màng. 

Làm sạch màng:

Để kéo dài tuổi thọ cho màng, cần làm sạch màng vào cuối hạn dùng. Chọn cách rửa màng tối ưu tùy thuộc vào loại nước đầu vào. Thời điểm rửa màng xác định dựa theo đồng hồ đo áp lực.

(1) Làm sạch bằng thổi khí: Cách đơn giản là dùng khí thổi từ dưới lên sao cho bọt khí đi vào trong ruột màng chui theo lổ rỗng ra ngoài, đẩy cặn bám ra khỏi màng.


(2) Làm sạch bằng cách ngâm trong dung dịch hóa chất: Nếu tổn thất áp qua màng tăng lên 25~30 cmHg so với bình thường, ngay cả khi đã dùng cách rửa màng bằng thổi khí, thì cần làm sạch màng bằng cách ngâm vào thùng hóa chất riêng khoảng 2~4 giờ. (Dùng chlorine với liều lượng 3~5g/L, thực hiện 6~12 tháng một lần).

Màng mới .......Sáu tháng sử dụng .......Tẩy rửa màng ..............Sau khi tẩy

Bề mặt màng (40 lượt) ..........................Bề mặt màng (40 lượt)

Những ưu điểm đã được khẳng định của công nghệ MBR: 

(1) Sự ổn định của chất lượng nước sau xử lý

  Đáp ứng được tiêu chuẩn rất khắc khe về chất lượng nước đầu ra, như coliform chẳng hạn.
  Nhờ vào hiệu suất khử chất lơ lửng và vi sinh cấp độ cao, nước sau xử lý có thể được tái sử dụng ngay cho các tòa nhà hay nhà máy nước tuần hoàn.
  Có thể được thiết kế để ứng dụng cho nhiều lĩnh vực với những đặc thù riêng và đòi hỏi chất lượng nước sau xử lý luôn ổn định.

(2) Những điểm tuyệt vời của màng:

  Tính ưu việt của màng đã được kiểm chứng qua nhiều công trình ứng dụng khác nhau với phạm vi ứng dụng rộng.
  Thiết kế dạng môđun rất hiệu quả và hệ thống giảm thiểu được sự tắc nghẽn.
  Màng được chế tạo bằng phương pháp kéo đặc biệt nên rất chắc, sẽ không bị đứt do tác động bởi dòng khí xáo trộn mạnh trong bể sục khí.
  Thân màng được phủ một lớp polymer thấm nước thuộc nhóm hydroxyl. Vì vậy, màng không bị hư khi dùng chlorine để tẩy rửa màng vào cuối hạn dùng.

(3) Một giải pháp kỹ thuật nhiều lợi ích kinh tế:

  Giảm giá thành xây dựng nhờ không cần bể lắng, bể lọc và khử trùng.
  Tiêu thụ điện năng của công nghệ MBR rất ít so với các công nghệ khác và đã được cấp bằng chứng nhận “Công nghệ Môi trường Mới”.
  Phí thải bùn cũng giảm nhờ tuần hoàn hết ¼ và lượng bùn dư tạo ra rất nhỏ.

(4) Bảo trì thuận tiện:

  Kiểm soát quy trình chỉ cần đồng hồ áp lực hoặc lưu lượng.
  Cấu tạo gồm những hộp lọc đơn ghép lại nên thay thế rất dễ. Quá trình làm sạch, sửa chữa, bảo trì và kiểm tra rất thuận tiện.
  Quy trình có thể được kết nối giữa công trình với văn phòng sử dụng, vì thế có thể điều khiển kiểm soát vận hành từ xa, thậm chí thông qua mạng internet.

Công nghệ xử lý nước thải công nghiệp được mô tả qua nhiều công đoạn khác nhau, để tìm hiểu sau hơn về công nghệ xử lý nước thải công nghiệp này mời bạn đọc cùng tìm hiểu thông tin mô tả từng công đoạn của công nghệ dưới đây:
Giai đoạn 1: Xử lý nước sơ cấp
Ở giai đoạn này thì song chắn rác có nhiệm vụ lưu giữ lại những tạp chất thô như: rác, túi, giấy, vỏ cây, thanh sắt, v.v... mục đích bảo vệ cho máy bơm nước và những công trình cũng như thiết bị xử lý nước thải sau này, tuy nhiên nhược điểm của song chắn rác thủ công là không có trục vớt rác, vì vậy mỗi khi rác thải nhiều sẽ bị tồn đọng và gây ra hiện tượng tắc, vì vậy cần có hệ thống trục vớt hoặc là máy nghiền rác thải để khắc phục tình trạng trên. Đằng sau song chắn rác nên thiết kế một rổ lọc rác làm bằng lưới inox được kết hợp với máy rung.
Tiếp theo là cấu tạo của bể lắng cát, mục đích là để lắng những hạt vô cơ có trong thành phần của nước thải, chủ yếu là cát, công nghệ xử lý nước thải công nghiệp cũng không khác nhiều so với những công nghệ xử lý nước thải thông thường. Ngay trên trạm xử lý khi để cát lắng xuống sẽ làm việc lấy cặn trở nên khó khăn hơn. Vì chúng sẽ làm ảnh hưởng đến những ống dẫn bùn, hoạt động của các ống này sẽ kém đi là nguyên nhân làm máy bơm bị hỏng. Với dạng bể cáu tạo từ metan và bể lắng 2 vỏ thì thành phần cát lắng lại là thành dư thừa, chính vì vậy mà cần xây dựng bể lắng cát bên trên trạm xử lý khi mực nước thải nhiều hơn 100m3/ngày. Dưới những tác động của lực trọng trường, những thành phần rắn của phần tử có tỷ trọng lớn hơn so với tỷ trọng của nước khi lắng xuống dưới đáy, từ quá trình nước thải chuyện động qua bể lắng cát. Tại bể lắng cát sẽ được tính tốc độ dòng chảy đủ lờn (0.3m/s) để những phần tử hữu cơ nhỏ không lắng xuống được và những thành phần tạp chất vô cơ bị giữ lại trong bể. Thường thì những hạt cát khi bị giữ lại luôn có độ lớn thủ lưc từ 18mm/s đến 24m/s.
Sơ đồ quy trình xử lý nước thải

Sơ đồ dưới đây thể hiện rõ công nghệ xử lý nước thải công nghiệp:
Tại tuyển nổi được sử dụng để tách những thành phần chất lơ lửng và nén bùn cặn lại, tại đây những hạt nhỏ, lắng chậm hơn so với những hạt nặng cũng được khử hoàn toàn. Sau đó thực hiện quá trình tuyển nổi nước thải được áp dụng cách sục khí, khí được đưa vào sẽ là ozone, những bọt khí này sẽ tạo một liên kết với những hạt khi đủ lớn thì chúng sẽ nổi lên bên trên mặt nước, rồi được tập hợp thành từng lớp bọt có chứa hàm lượng tạp chất cao. Việc thu gom sẽ dễ dàng hơn khi tất cả hạt kết hợp với nhau tạo thành mảng, tiếp theo là quá tình vớt bọt tự động từ máy.
Công nghệ xử lý nước thải công nghiệp có 1 giai đoạn được đánh giá khá đơn giản, đó là ngay tại bể lắng, việc tách các thành phần chất bẩn không hòa tan ra khỏi nước thải. Mỗi thành phần rắn khi không được hòa tan vào nước thải sẽ chịu một tác động từ 2 trọng lực: trọng lực bản thân, và lực cản khi chúng chuyển động dưới tác động của trọng lực. Sự tương quan của 2 lực trên liên quan rất lớn tới tốc độ lắng của những hạt rắn, hầu như 20% lượng chất bẩn không được hòa tan ngay trong nước thải thì cũng có 20% là thành phần của hạt cát, sẽ được lưu giữ lại bể lắng cát. Hầu hết lượng chất bẩn không được hòa tan là chất hữu cơ, và chúng sẽ được giữ lại tại bể lắng I, chúng được hình thành ngay trong quá tình xử lý bùn thứ cấp, và được lắng lại khi ở bể lắng II.

Giai đoạn 2: Giai đoạn xử lý sinh học trong điều kiện kỵ khí
Mô hình bể phân hủy kỵ khí của công nghệ xử lý nước thải công nghiệp
Nếu trong quá trình xử lý không có ôxy cung cấp thì những chất hữu cơ sẽ bị phân hủy dựa vào sinhvật và sản phẩm cuối của quá trình là thành phần của những chất: mêtan (CH-4) và CO2. Giai đoạn chuyển hóa chất hữu cơ dựa vào vi sinh kỵ khí chủ yếu diễn ra dựa trên nguyên lý lên men ngay quá trình chuyển hóa chất hữu cơ nhờ vào vi sinh được diễn ra theo nguyên lý lên men qua các bước:
- Thành phần các chất hữu cơ sẽ được phân hủy nhờ vào những vi sinh vật thành những chất hữu cơ đơn giản có khối lượng nhẹ.
- Những men axit biến đổi chất hữu cơ đơn giản thành axit hữu cơ.
- Giai đoạn vi khuẩn tạo men metan rồi chuyển hóa thành hydro và những axit được tạo thành ở giai đoạn trước thành khí metan và khí cacbonic.
Từ nguyên tắc trên khi thiết kế bể phân hủy kỵ khí cần có các bể bê tông cốt thép có nắp được bịt kín để lưu giữ lượng nước thải trong khoảng thời gian từ 12-20 tiếng phụ thuộc vào tùy lượng nước thải, hàm lượng những thành phần chất bẩn bên trong nước thải. Để hiệu xuất xử lý đạt tiêu chuẩn cần bố trí thêm những vật liệu đệm sinh học dày đặc để làm giá thể đồng thời cho khuấy đều khí metan sục xuống bên dưới bể. Bể phân hủy kỵ khí được khởi động bằng chính những vi khuẩn kỵ khí có từ trong nước thải. Ưu điểm củaCông nghệ xử lý nước thải công nghiệp này là tiết kiệm được năng lượng, quá trình xử lý triệt để và nhân công, hiệu xuất xử lý COD giảm từ 60 đến 65%.

Giai đoạn 3: Phương pháp phân hủy bằng OZONE
Có nhiều phương pháp được áp dụng để xử lý nước thải hoàn toàn độc lập như:
- Phương pháp cơ học được sử dụng với trường hợp nước thải có chứa những thành phần chất ô nhiễm không tan, thành phần có khối lượng khác khối lượng của nước hay là những dạng hạt có kích thước lơn: Từ quá trình lắng cặn, đến gạt nổi, lọc.
- Phương pháp hóa lý được áp dụng để xử lý những dạng nước thải như nước thải nhà máy chứa hóa chất: Sử dụng hóa chất để trung hòa, tạo huyền phù, tạo kết tủa, hấp thụ trao đổi v.v...
- Phương pháp sinh học, là một trong những phương pháp đơn giản nhất lại đem lại hiểu quả cao, tiết kiệm chi phí, đây vẫn là một trong những phương pháp thường được sử dụng nhiều nhất trong quá trình xử lý nước bị ô nhiễm từ những thành phần chất hữu cơ: Quá trình phân hủy hữu cơ dựa vào vi khuẩn kỵ khí, hiếu khí, rong, tảo, hay nấm v.v...
Những phương pháp xử lý nước thải truyền thống, thường hay sử dụng hệ thống sinh học hiếu khí bằng cách sục khí oxy. Ưu điểm của phương pháp này có thể phân hủy triệt để nước thải thành nước sạch. Nhưng lại có một nhược điểm lớn là chi phí cao, diện tích xây dựng và tiêu hao cho việc sục khí vi sinh phải chạy liên tục không được nghỉ, hơn nữa hệ thống phân hủy hiếu khí cũng sẽ không tốt nếu việc tính toán lượng khí cần thiết để cung cấp cho hệ thống không đúng.
Xử lý phân hủy bằng ozone
Có nhiều trường hợp, áp dụng những phương pháp thông thường ở trên sẽ không hiệu quả. Với nhiều loại nước thải có các chất độc khó phân hủy, ví dụ như thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ…, vi sinh vật hầu như không hoạt động được. Để giải quyết được những trường hợp này, người ta đã áp dụng những phương pháp oxy hóa nâng cao (Advanced Oxidation Processes-AOPs).
Mục đích loại bỏ những khó khăn của phương pháp xử lý hiện nay (phương pháp xử lý bằng sinh học - Công nghệ xử lý nước thải công nghiêp) như: hệ thống cồng kềnh, tốn diện tích, vận hành phức tạp, chi phí vận hành cao,…công ty chúng tôi đã chế tạo và ứng dụng rất thành công dây chuyền xử lý nước thải công nghiệp bằng ozone. Công suất xử lý của các dây chuyền này đạt từ 30 - 30.000m3/ngđ.
Trong số các chất oxy hóa thường được sử dụng, ozone là một chất oxy hóa rất mạnh. Ozone tác dụng với các CHC tan trong nước chủ yếu theo hai cơ chế sau: Thứ nhất, ozone phản ứng trực tiếp với chất tan (P). Thứ hai, ozone phản ứng với chất tan (P) theo cơ chế gốc.
Mặt khác, ozone có thể tác dụng với chất khác tạo ra chất oxy hóa thứ cấp. Chất mới này sẽ oxy hóa chất tan. Tất cả các phản ứng trên có thể xảy ra đồng thời. Nhưng tùy theo điều kiện phản ứng và thành phần của nước nhiễm bẩn, sẽ có phản ứng nào đó trội hơn.
- Ozone phản ứng trực tiếp với chất tan
Ozone khi hòa tan vào nước sẽ tác dụng với CHC (P), tạo thành dạng oxy hóa của chúng theo phương trình động học sau: - d[P]/dt = kP [P][O3]. Nhưng phản ứng trực tiếp của ozone với CHC có tính chọn lọc, tức là ozone chỉ phản ứng với một số loại CHC nhất định. Sản phẩm của các quá trình ozone hóa trưc tiếp các chất vòng thơm bằng ozone thường là các axit hữu cơ hoặc các muối của chúng.
- Ozone phản ứng với chất tan theo cơ chế gốc
Khi tan vào nước tinh khiết, ozone sẽ phân hủy tạo thành gốc OH theo phản ứng kiểu dây chuyền. phương trình tốc độ phân hủy ozone như sau:
- d[O3] /dt = kA[O3] + kB[OH¯ ]1/2[O3]3/2 Trong đó, kA = 2 k22; kB = 2k25 ( k23/ k26 )1/2
Theo biểu thức trên, ở môi trường kiềm, sự phân hủy ozone tăng, Thực nghiệm cho thấy, khi oxy hóa các hợp chất đa vòng thơm (PAH) chỉ bằng một mình ozone, hiệu quả tốt trong điều kiện pH = 7 – 12.
Như vậy, CHC có thể bị phân hủy bởi ozone theo cả hai cơ chế: trực tiếp và gốc. Khi đó, phương trình động học chung của quá trình đó biểu diễn như sau :
- d[P]/dt = kd[O3][P] + kid[OH&][P] Trong vế phải của phương trình, số hạng thứ nhất thể hiện mức độ phản ứng trực tiếp của ozone với CHC thông qua hệ số kd. Số hạng thứ hai thể hiện mức độ phản ứng gián tiếp của nó với CHC thông qua gốc OH và thông qua hệ số kid.
Với khả năng oxy hóa - khử mạnh, như quý trình phân tích ở trên, nên ozone có thể khử màu, khử mùi, khử trùng một cách hiệu quả. Nước thải qua bể phân hủy ozone của chúng tôi giảm được trên 90% hàm lượng COD, BOD, SS,… giảm trên 95% chỉ số Coliform, nước thải không còn màu, mùi khó chịu, không phát sinh sản phẩm thứ cấp gây độc hại.

Giai đoạn 4: Tuyển nối thứ cấp và lắng cặn thứ cấp
Kho chứa bùn thứ cấp
Sau quá trình phân hủy kỵ khí và phân hủy ozone nước thải vẫn chưa đạt tiêu chuẩn để thải ra môi trường. Cho nên, cần có thêm hệ thống bể tuyển nổi thứ cấp và bể lắng thứ cấp. Nước thải sẽ được đưa qua hệ thống bể tuyển nổi thứ cấp và lắng thứ cấp của chúng tôi sẽ trở thành nước sạch, đảm bảo TCVN 5945:2005 - cột A (COD<50mg/l, BOD5<30mg/l, SS<50mg/l,…), có thể tái sử dụng làm nước cấp phục vụ sản xuất hoặc sinh hoạt.

Công đoạn 5: Quá trình xử lý tái tạo bùn thải
Bùn thải được sinh ra chủ yếu trong nhà máy xử lý nước thải và chủ yếu đọng lại tại bể lắng I, bể phân hủy sinh học và cả bể lắng II. Khối lượng bùn cặn này sẽ được hút ra từ máy bơm. Quá trình xử lý bùn thải là cần thiết vì nếu không sẽ là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường. Quá trình xử lý bùn thải:
- Tách thành phần khối lượng nước có trong hỗn hợp bùn cặn để giảm được kích thước của công trình xử lý và để giảm thể tích cặn phải vận chuyển đến nơi tiếp nhận.
- Quá trình phân hủy thành phần chất hữu cơ dễ bị thối rữa, chuyển thành những chất hữu cơ ổn định và những hợp chất vô cơ dễ dàng tách nước và sẽ không ảnh hưởng xấu đến môi trường tiếp nhận.
Xử lý và tái sử dụng bùn thải
Thành phần hữu cơ và vô cơ được tách ra từ bùn thải bằng phương pháp thủy lực: những chất vô cơ nặng sẽ lắng xuống, còn những thành phần chất hữu cơ nhẹ sẽ nổi lên trên. Những thành phần chất vô cơ sẽ được tận dụng cho việc sản xuất vật liệu xây dựng, thành phần chất hữu cơ được xử lý từ phương pháp sinh học để tách riêng những kim loại nặng với thành phần bùn hữu cơ sạch. Bùn hữu cơ sạch này được tận dụng để sản xuất phân vi sinh phục vụ trong nông nghiệp. Các kim loại nặng còn lại sẽ được xử lý theo phương pháp hóa học và được tách riêng kim loại hay hóa rắn toàn bộ và phải được chôn lấp an toàn.


Nâng cao quản lý phát triển đô thị và chất lượng xây dựng

21/05/2013 09:35
Ngày 17/5, tại TP.HCM, Bộ Xây dựng đã tổ chức Hội nghị Triển khai Nghị định số 11/2013/NĐ-CP về quản lý đầu tư phát triển đô thị và Nghị định số 15/2013/NĐ-CP về quản lý chất lượng công trình xây dựng tại khu vực phía Nam. Đại diện lãnh đạo 35 tỉnh thành khu vực phía Nam, các Sở Xây dựng, TCty, DN… cùng tham dự. Đây là những Nghị định có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý phát triển đô thị và quản lý chất lượng công trình xây dựng.

Thứ trưởng Nguyễn Trần Nam phát biểu khai mạc hội nghị.
Phát biểu khai mạc Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam cho biết: Trong những năm vừa qua, với chính sách đổi mới, cùng với sự phát triển nhanh về kinh tế - xã hội đất nước, hệ thống các đô thị Việt Nam đã phát triển nhanh chóng về cả số lượng, chất lượng và quy mô. Tại các địa phương đã hình thành nhiều không gian đô thị mới, đáp ứng những nhu cầu của người dân về một môi trường sống và làm việc hiện đại, đóng góp đáng kể vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Diện mạo đô thị có nhiều khởi sắc theo hướng văn minh, hiện đại, tạo dựng được những không gian đô thị mới, từng bước đáp ứng nhu cầu về môi trường sống và làm việc có chất lượng. Đô thị đã khẳng định vai trò là động lực phát triển kinh tế, là hạt nhân thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở mỗi địa phương, mỗi vùng và cả nước.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tốc độ đô thị hóa quá nhanh tại một số đô thị trung tâm cũng đồng thời tạo nhiều sức ép cho môi trường tự nhiên cũng như môi trường xã hội, hình thành những thách thức mới cho công tác quản lý phát triển đô thị. Thực trạng phát triển trong thời gian vừa qua đã cho thấy những thiếu sót lớn còn tồn tại trong công tác quản lý đầu tư phát triển đô thị. Tình trạng lãng phí đất đai trong các đô thị chưa được khắc phục, hiệu quả đầu tư xây dựng còn thấp, ảnh hưởng đến phát triển bền vững của các đô thị.
Nghị định 11 cũng lần đầu tiên quy định về trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc phải thực hiện công tác đầu tư phát triển đô thị theo quy hoạch và có kế hoạch. Đây chính là công cụ cốt lõi để kiểm soát quá trình phát triển đô thị, hạn chế các dự án thực hiện tràn lan không theo nhu cầu và khả năng của nền kinh tế như đã diễn ra trước đây. Chính quyền địa phương phải xây dựng kế hoạch và chịu trách nhiệm về việc thực hiện công tác đầu tư xây dựng theo kế hoạch do chính mình đề xuất. Chính quyền địa phương cũng có trách nhiệm trong việc thực hiện công tác kết nối, hỗ trợ chủ đầu tư (thông qua hoạt động của Ban quản lý khu vực phát triển đô thị), phối hợp trong công tác quản lý hành chính và an ninh trật tự tại các khu vực dự án.

Toàn cảnh hội nghị.
Thứ trưởng nhấn mạnh: “Nghị định 11/2013/NĐ-CP là một sự thay đổi lớn về tư duy quản lý trong lĩnh vực phát triển đô thị, trong đó có quy định về những công việc hoàn toàn mới. Vì vậy trong quá trình triển khai thực hiện tại các địa phương chắc chắn sẽ có nhiều bỡ ngỡ, Bộ Xây dựng hiện đang xây dựng một thông tư hướng dẫn chi tiết cho các nội dung của Nghị định và dự kiến ban hành Thông tư trong tháng tới. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp và hướng dẫn các địa phương cũng như các DN và người dân trong việc triển khai thực hiện Nghị định này, đảm bảo các quy định của Nghị định thực sự đi vào cuộc sống và mang lại những lợi ích thiết thực cho công tác phát triển đô thị của đất nước”.
Nghị định 15/2013/NĐ-CP về quản lý chất lượng công trình xây dựng có hiệu lực thi hành từ ngày 15/4/2013. Nghị định này được ban hành thay thế Nghị định 209/2004/NĐ-CP về quản lý chất lượng công trình xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý các hoạt động xây dựng, phù hợp với quan điểm và thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như của ngành Xây dựng. Nghị định 15 ra đời làm rõ hơn về phân loại nguồn vốn đầu tư để có cách thức quản lý khác nhau tránh lãng phí thất thoát.
Nói về quản lý chất lượng công trình xây dựng, Thứ trưởng Nam cho biết: “Trong 9 năm áp dụng Nghị định 209/2004/NĐ-CP cho thấy trách nhiệm quản lý nhà nước về chất lượng xây dựng của các Bộ quản lý xây dựng chuyên ngành và UBND cấp tỉnh chưa rõ nét. Yêu cầu và cách thức quản lý các dự án, công trình xây dựng sử dụng các nguồn vốn khác nhau chưa rõ ràng. Theo số liệu thống kê, hiện nay vốn đầu tư xây dựng chiếm khoảng 70% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, vì vậy công tác quản lý chất lượng công trình, chống thất thoát, lãng phí, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đặc biệt là các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước. Với nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, cơ chế quản lý đầu tư xây dựng được điều chỉnh dần theo hướng chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” nhằm để thu hút các nguồn lực đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước, thu hút vốn đầu tư phát triển. Tuy nhiên, do quá coi trọng yếu tố thị trường, không phân biệt nguồn vốn Nhà nước và các nguồn vốn ngoài Nhà nước để có biện pháp quản lý phù hợp nên đã phân giao quá nhiều quyền hạn cho chủ đầu tư, làm mờ nhạt vai trò kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành. Chính điều này cùng với sự hạn chế về năng lực của các chủ đầu tư là một trong những nguyên nhân gây thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng, làm giảm chất lượng công trình, giảm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư”.
Việc ra đời Nghị định 11 và Nghị định 15 có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý phát triển đô thị và quản lý chất lượng công trình xây dựng. Qua đó nâng cao chất lượng công trình xây dựng từ các loại nguồn vốn cũng như giúp công tác quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch và kế hoạch bền vững.

Việt Nam sẵn sàng hợp tác về sử dụng nguồn nước

21/05/2013 09:51
Việt Nam cam kết sẵn sàng hợp tác với các nước để trao đổi, chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm trong quản lý, khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên nước, đặc biệt là những kinh nghiệm trong đối phó với thiên tai do lũ lụt và hạn hán gây ra.

Khai mạc phiên họp toàn thể Hội nghị Thượng đỉnh về nước lần thứ 2 khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Toàn văn bài phát biểu của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tại Hội nghị Thượng đỉnh về nước
Ngày 20/5, tại Chiang Mai (Thái Lan), Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân thay mặt Chính phủ Việt Nam tham dự và phát biểu tại Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 2 về Nước khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Hội nghị có sự tham dự của hơn 2.000 đại biểu của 50 quốc gia và vùng lãnh thổ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, trong đó lãnh đạo cấp cao như Tổng thống, Thủ tướng, Phó Thủ tướng và quan chức cấp cao.
Mục tiêu của Hội nghị nhằm nâng cao nhận thức, tìm giải pháp cho các vấn đề của khu vực liên quan tới lãng phí nguồn nước, lũ lụt, hạn hán cũng như biến đổi khí hậu.
Các đại biểu tập trung thảo luận xoay quanh các chủ đề thời sự như: An ninh kinh tế, lương thực và nguồn nước; an ninh nguồn nước đô thị; an ninh môi trường nước; thách thức của thảm họa liên quan tới nước; an ninh nguồn nước hộ gia đình; rủi ro và khả năng phục hồi nguồn nước; và tiến trình thống nhất quản lý nguồn nước cho một thế giới an toàn về nước.
Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra nhấn mạnh, Hội nghị này nhằm đề cao sự cần thiết phòng chống lũ lụt và quản lý nguồn nước trước những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu; cũng như cần phối hợp quốc tế để có những kế hoạch cụ thể giải quyết các vấn đề về nước trong tương lai.
Đồng thời, Hội nghị này còn cơ hội để các nhà lãnh đạo trong khu vực trao đổi quan điểm và tiếp cận việc quản lý khủng hoảng liên quan tới nước. Việc thống nhất nhận thức từ các quốc gia sẽ góp phần quan trọng tạo ra những cơ chế quản lý và ngăn chặn rủi ro đối với lũ lụt và hạn hán.
Tại Hội nghị này, Chính phủ Thái Lan cam kết đóng góp 1 triệu USD để thành lập quỹ trị giá 10 triệu USD nhằm hỗ trợ nghiên cứu về quản lý nguồn nước trong khu vực.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân phát biểu tại phiên toàn thể của Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 2 về Nước khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Phát biểu tại phiên toàn thể của Hội nghị, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân nêu rõ, vì lợi ích của tất cả các quốc gia, dân tộc, vì sự thịnh vượng và ổn định chung của cả khu vực, các quốc gia trong khu vực chung tay hành động vì một châu Á – Thái Bình Dương thịnh vượng, an toàn về nguồn nước.
Phó Thủ tướng đề xuất xem xét phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật sử dụng các nguồn nước quốc tế cho các mục đích phi giao thông thủy; nâng cao hiệu quả của các Hiệp định, Hiệp ước đã được ký kết; tăng cường hợp tác trong việc chia sẻ nguồn nước xuyên biên giới trên nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia.
Bên cạnh đó cần tăng cường hợp tác chia sẻ kinh nghiệm trong quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên nước, đồng thời phòng, chống có hiệu quả các tác hại do nước gây ra; đầu tư cho các công trình xử lý nước thải và khôi phục các nguồn tài nguyên nước bị suy thoái, cạn kiệt; chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, tập quán tốt về quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước; tăng cường sự tham gia và tham vấn các nước láng giềng trong các hoạt động phát triển lưu vực nhằm bảo đảm nguồn nước không chỉ cho chúng ta hôm nay mà còn cho các thế hệ mai sau.
Việt Nam có truyền thống hàng ngàn năm phòng chống thiên tai và phát triển nền văn minh lúa nước nhưng lại đang đứng trước những thách thức to lớn về an ninh nước do biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển. Việt Nam có tổng lượng nước khoảng 830 - 840 tỉ m3, nhưng có trên 60% được hình thành từ ngoài lãnh thổ và lại phân bố không đều theo mùa theo vùng và trong đó trên 60% tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long. Tình trạng ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt, xâm nhập mặn ngày càng gia tăng.
Bên cạnh đó, Việt Nam là 1 trong 10 quốc gia chịu nhiều thiên tai nhất, hàng năm phải hứng chịu từ 6-7 cơn bão; hàng chục trận lũ lụt, lũ quét, sạt lở đất... Trong 10 năm gần đây, mỗi năm thiên tai đã cướp đi sinh mạng của khoảng 400 người, thiệt hại kinh tế ước khoảng 1,2 % GDP.


Quy hoạch 39 nhà máy xử lý nước thải tập trung

21/05/2013 14:58
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Quy hoạch thoát nước Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Phạm vi quy hoạch gồm toàn bộ hệ thống tiêu thoát nước thuộc địa giới hành chính của Hà Nội và một phần địa giới thuộc các tỉnh Hòa Bình, Hà Nam, Bắc Ninh, Hưng Yên có cùng lưu vực sông.

Các kỹ sư vận hành Trạm xử lý nước thải Kim Liên.
Theo Quy hoạch, thành phố Hà Nội có ba vùng tiêu thoát nước chính là vùng tả Ðáy, hữu Ðáy và bắc Hà Nội. Tại vùng tả Ðáy thoát nước bằng bơm cưỡng bức bao gồm địa bàn lưu vực sông Tô Lịch, sông Nhuệ, các huyện Phú Xuyên, Ðông Mỹ và các thị trấn, diện tích khoảng 47.350 ha. Tại vùng hữu Ðáy, thoát nước bằng hình thức tự chảy kết hợp với bơm cưỡng bức, bao gồm địa bàn thị xã Sơn Tây, Xuân Mai, Hòa Lạc, Quốc Oai, Phúc Thọ, Chúc Sơn và các thị trấn, diện tích khoảng 31.310 ha. Vùng bắc Hà Nội kết hợp một phần thoát nước tự chảy với bơm tiêu đô thị và thủy lợi, bao gồm địa bàn các quận Long Biên, Gia Lâm, Ðông Anh, Mê Linh, Sóc Sơn, diện tích khoảng 46.740 ha.
Về quy hoạch thoát nước thải và xử lý nước thải, khu vực đô thị trung tâm phía nam sông Hồng chia thành năm lưu vực chính thu gom và xử lý nước thải. Tại khu vực này, phát triển hệ thống thoát nước hỗn hợp, trên cơ sở mạng lưới thoát nước chung đã có và xây dựng mới mạng lưới thu gom nước thải để đưa nước thải về nhà máy xử lý tập trung của từng lưu vực. Khu vực đô thị trung tâm phía nam sông Hồng chia thành 11 lưu vực. Khu vực đô thị phía bắc sông Hồng chia thành 13 lưu vực. Các đô thị vệ tinh được chia thành mười lưu vực thu gom và xử lý nước thải. Mạng lưới thu gom nước thải bao gồm các trạm bơm chuyển bậc, các tuyến cống bao và giếng tách nước thải, cống thu gom nước thải riêng đã được quy hoạch về hướng tuyến, quy mô và sẽ được tính toán cụ thể trong giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng, đáp ứng yêu cầu thu gom toàn bộ nước thải về các nhà máy xử lý nước thải.
Dự kiến sẽ xây dựng 39 nhà máy xử lý nước thải tập trung cho các đô thị với công suất đến năm 2030 là 1.808.300 m3/ngày, đến năm 2050 là 2.482.300 m3/ngày.